Kỹ năng, kiến thức người làm công tác Kế toán cần được trang bị để đáp ứng yêu cầu đổi mới Kế toán tại Việt Nam

Trước đây chúng ta thường nghĩ rằng kế toán chủ yếu là việc ghi chép (BOOKEEPING) các giao dịch kinh tế phát sinh tại đơn vị, nhiệm vụ tổng hợp, phân tích thông tin và và trình bày báo cáo tài chính trong nhiều trường hợp chưa được nhấn mạnh là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Kèm theo đó, do còn mang nặng yêu cầu quản lý Nhà nước, kế toán được hướng đến mục đích đảm bảo số thu ngân sách hơn là phục vụ chính công tác quản trị, điều hành của bản thân doanh nghiệp. Vì vậy, Chế độ kế toán hướng đến coi trọng phương pháp ghi chép, lập các bút toán định khoản, phương pháp kế toán chịu ảnh hưởng nặng nề của các quy định về thuế, như: Yêu cầu các doanh nghiệp phải thực hiện hệ thống tài khoản thống nhất về số hiệu, tên gọi; Một số loại chứng từ kế toán, hệ thống sổ kế toán và các hình thức sổ kế toán phải theo mẫu và quy trình bắt buộc. Những vấn đề trên xuất phát từ cách tiếp cận chính sách của nền kinh tế tập trung bao cấp, với các quan điểm như không quản được thì cấm, Nhà nước thống nhất quản lý toàn diện, triệt để và  can thiệp vào mọi hoạt động kinh tế xã hội. Chính những quan niệm trói buộc có phần lạc hậu từ cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực kế toán đã làm cho người làm công tác kế toán chưa nhận thức được vai trò tiên quyết của kế toán là phục vụ việc ra quyết định quản lý điều hành của chủ doanh nghiệp (nhà đầu tư) hơn là phục vụ mục đích thuế, chưa thoát ra được cái bóng của người ghi sổ (BOOKEEPER).

Ngay cả trên bình diện quốc tế, trước đây Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) cũng đặt tên cho Chuẩn mực của mình là Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) nhưng nay đã và đang chuyển đổi thành Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS). Việc đổi tên gọi Chuẩn mực quốc tế không đơn thuần chỉ là việc thay tên đổi họ cho một hệ thống Chuẩn mực, vấn đề cốt lõi là muốn nhấn mạnh đến mục đích của Chuẩn mực là cung cấp thông tin trên báo cáo tài chính chứ không phải là ghi chép kế toán.

Ai cũng biết thông tin tài chính được cung cấp đến công chúng là thông qua báo cáo tài chính, doanh nghiệp chỉ công bố báo cáo tài chính chứ không công bố sổ kế toán. Công việc kế toán cũng như một người đầu bếp vậy, sản phẩm cuối cùng của người đầu bếp là một bữa ăn thịnh soạn bao gồm các món ăn được chế biến một cách công phu thì sản phẩm cuối cùng của kế toán viên chính là báo cáo tài chính với các thông tin đã được chế biến (sắp xếp, trình bày và tổng hợp) để phản ánh các giao dịch và sự kiện theo đúng bản chất kinh tế của chúng. Việc ghi chép ban đầu trên sổ kế toán, tập hợp các thông tin trên hóa đơn đầu vào cũng tương tự như người đầu bếp phân loại các thực phẩm trước khi chế biến vậy và rõ ràng công đoạn đầu tiên này mới chỉ đóng vai trò thứ yếu, chưa thể coi là tất cả công việc cần phải làm.

Trong bối cảnh tin học hóa diễn ra mạnh mẽ, hầu hết các doanh nghiệp đã sử dụng phần mềm cho công tác kế toán. Các phần mềm ngày càng hiện đại đã giúp tiết kiệm công sức của người làm kế toán, làm thay nhiệm vụ của một BOOKEEPER, người làm công tác kế toán không còn phải lập các bút toán định khoản như trước đây khi làm kế toán thủ công và vì vậy kỹ năng định khoản Nợ, Có không còn được xem trọng, dần chuyển thành kỹ năng nhập dữ liệu là chính. Kế toán trước đây cũng như ngày nay hướng đến việc cung cấp thông tin tài chính hữu ích cho người sử dụng báo cáo tài chính nên người làm kế toán cần phải được trang bị các kỹ năng và kiến thức để lập và trình bày báo cáo tài chính một cách hợp lý và trung thực. Trong quá trình lập báo cáo tài chính, phần lớn thời gian được dùng để thu thập và xử lý dữ liệu và đây mới là công việc chính của người làm kế toán, việc nhập dữ liệu không phải là công việc tốn nhiều thời gian, kỹ năng và công sức, thậm chí không cần đến người làm công tác kế toán phải đích thân nhập dữ liệu. Trên thực tế, thông tin tài chính ban đầu lại không xuất phát từ phòng kế toán mà đến từ các bộ phận kỹ thuật, kinh doanh, nghiên cứu thị trường, tổ chức…, người làm kế toán căn cứ vào các thông tin thô (các số liệu khô khan chưa có ý nghĩa và chưa có giá trị sử dụng) được các bộ phận liên quan cung cấp để xử lý thành thông tin tài chính hữu ích (các thông tin có giá trị sử dụng cho việc ra quyết định kinh tế).

Vậy, người làm kế toán cần được trang bị những kỹ năng và kiến thức gì?

– Thứ nhất, là kiến thức về nguyên lý kế toán, để hiểu được những vấn đề cơ bản về kế toán. Nguyên lý kế toán đóng vai trò quan trọng, xuyên suốt trong quá trình tác nghiệp tại đơn vị vì việc lập và trình bày báo cáo tài chính đều gắn liền với nguyên lý, khuôn mẫu kế toán;

– Thứ hai, do phương pháp kế toán là khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của bất cứ ai mà chỉ bị ảnh hưởng bởi bản chất và cách thức vận hành của các giao dịch kinh tế, nên người làm kế toán phải được trang bị các kiến thức và có hiểu biết về giao dịch kinh tế, tài chính chứ không chỉ đơn thuần là kiến thức ghi chép sổ sách. Do sự đa dạng của thực tiễn, nhiều giao dịch kinh tế phát sinh không được hướng dẫn trong các văn bản quy phạm pháp luật nên người làm kế toán cần phải biết lựa chọn các nguyên tắc kế toán phù hợp để phản ánh giao dịch kinh tế phát sinh, vận dụng các nguyên tắc lý thuyết của chuẩn mực vào từng tình huống cụ thể của thực tiễn đơn vị;

– Thứ ba, người làm kế toán phải hiểu được yêu cầu của người sử dụng báo cáo tài chính để có thể cung cấp thông tin tài chính hữu ích. Như trên đã nói, phần lớn dữ liệu đầu vào cho kế toán không xuất phát từ bộ phận kế toán, như vậy người làm kế toán cần biết cách lấy dữ liệu, tức là đưa ra yêu cầu cụ thể đối với các bộ phận liên quan (bộ phận kỹ thuật, kinh doanh, chiến lược, thẩm định giá…) để họ có thể cung cấp được dữ liệu theo đúng yêu cầu cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính;

– Thứ tư, khi đã có dữ liệu được cung cấp, người làm kế toán cần có các kỹ năng để xử lý dữ liệu và trình bày các dữ liệu đó trên báo cáo tài chính, biến các con số khô khan trở thành các con số biết nói;

– Thứ năm, nhiều quy định của Chuẩn mực yêu cầu sử dụng các kỹ năng tính toán tài chính, như tính dòng tiền chiết khấu, xác định giá trị hợp lý, giá trị có thể thu hồi, ước tính tổn thất…Ngoài ra, do nhiệm vụ của kế toán là cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định quản lý của chủ doanh nghiệp nên người làm kế toán phải có được các kiến thức về tài chính, nắm được kỹ năng tổng hợp và phân tích thông tin tài chính quá khứ và dự báo trong tương lai;

– Thứ sáu, thực nghĩa nghĩa vụ với nngân sách Nhà nước luôn là một nhiệm vụ không thể thiếu của doanh nghiệp, vì vậy người làm kế toán phải có các kiến thức về kê khai, quyết toán thuế.

Tất cả các kỹ năng nêu trên đều có vai trò và vị trí của nó, tuy nhiên các kỹ năng lập và trình bày báo cáo tài chính, các hiểu biết về bản chất và cách thức vận hành của các giao dịch kinh tế đóng vai trò then chốt vì thiếu nó, người làm công tác kế toán không thể cung cấp được thông tin tài chính hữu ích cho người sử dụng báo cáo tài chính phục vụ việc ra các quyết định quản lý, điều hành – mục đích chính của công tác kế toán. Các kỹ năng ghi sổ kế toán (lập các bút toán định khoản), kê khai thuế đóng vai trò thứ yếu, chỉ mang tính chất hỗ trợ cho mục đích chính của công tác kế toán.

Updated: 21/07/2017 — 7:03 sáng

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

© 2016 - Khoa HTTTKT CIT