Trao đổi về vấn đề thiết lập bộ chuẩn mực Kế toán cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ở Việt Nam theo hướng tiếp cận Ifrs For SMEs

PGS.TS. Võ Văn Nhị – Trưởng Khoa Kế toán, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, TS. Trần Thị Thanh Hải – Giảng viên Khoa Kế toán, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM

TÓM TẮT

Trong xu thế hội nhập và hội tụ kế toán quốc tế đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu, kế toán Việt Nam cũng cần phải có những thay đổi thích ứng. Tuy nhiên, việc áp dụng ngay toàn bộ chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS/IAS) nói chung và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế cho DNNVV (IFRS for SMEs) nói riêng ở Việt Nam là chưa khả thi do những khác biệt về môi trường chính trị, môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh, văn hóa giáo dục,… Để có thể đưa IFRS for SMEs vào áp dụng tại Việt Nam cần phải thực hiện theo lộ trình từng bước, trước mắt xây dựng một bộ chuẩn mực áp dụng riêng cho DNNVV trên tinh thần chọn lọc từ IFRS for SMEs, sau khi các DNNVV đã thực sự quen thuộc và tuân thủ bộ chuẩn mực kế toán một cách tự giác, cơ chế quản lý  của nhà nước đã có những điều chỉnh phù hợp với nền kinh tế thị trường và các DNNVV đã hội nhập một cách bền vững với thị trường quốc tế thì lúc này sẽ chuyển sang áp dụng toàn bộ IFRS for SMEs như nhiều quốc gia trên thế giới.

Từ khoá: Doanh nghiệp nhỏ và vừa, IFRS for SMEs.

  1. Đặt vấn đề

DNNVV có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của Việt Nam trong giai đoạn trước mắt cũng như về lâu dài. Sự phát triển của DNNVV chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau, trong đó kế toán góp phần khá quan trọng. Để đáp ứng tốt nhu cầu thông tin kế toán cho công tác quản lý doanh nghiệp cũng như các đối tượng sử dụng có liên quan thì cần thiết phải xây dựng khung pháp lý về kế toán thích ứng và phù hợp với đặc điểm hoạt động của DNNVV trong xu thế hội nhập sâu rộng, trong đó việc thiết lập bộ chuẩn mực kế toán theo hướng tiếp cận đi đến áp dụng toàn bộ chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế cho DNNVV (IFRS for SMEs) là vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, đáp ứng xu thế hội nhập và hội tụ kế toán quốc tế đang diễn ra trong phạm vi toàn cầu. Vấn đề đặt ra là phải xây dựng lộ trình và những giải pháp thích ứng để có thể thực hiện việc thiết lập và áp dụng bộ chuẩn mực kế toán theo định hướng nói trên vào điều kiện cụ thể của nền kinh tế Việt Nam nói chung và thực sự phù hợp với đặc điểm hoạt động của DNNVV nói riêng. Bài viết này sẽ tập trung vào việc nghiên cứu và trình bày một số nội dung có liên quan trực tiếp đến vấn đề thiết lập bộ chuẩn mực kế toán cho DNNVV ở Việt Nam theo hướng tiếp cận IFRS for SMEs.

  1. Tổng quan

IFRS for SMEs do hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) soạn thảo và ban hành chính thức vào năm 2009. Đây là bộ chuẩn mực đã được IASB tối giản chỉ còn 230 trang, chia làm 35 phần với nội dung khá đơn giản, dễ áp dụng. Đến tháng 5/2015, IASB đã thực hiện hoàn tất công tác rà soát lại các nội dung của IFRS for SMEs để cho ra đời phiên bản mới có hiệu lực từ 1/1/2017, tuy nhiên nội dung phiên bản mới này cũng không có sự thay đổi nào đáng kể so với phiên bản chính thức đầu tiên ban hành năm 2009.

Trong xu thế chung của các nước trên thế giới thì vấn đề hội nhập kế toán phải gắn liền với việc áp dụng hoặc vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính (BCTC) ở các doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng. Việc áp dụng IFRS for SMEs ở một số quốc gia đã giúp nâng cao chất lượng thông tin trên BCTC (Fazeena Fazneen Hussain et al, 2012),, giúp DNNVV dễ dàng tham gia vào thị trường vốn và tăng cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp này ở cả thị trường trong nước và quốc tế. IFRS for SMEs được chứng minh là cần thiết và tương đối phù hợp với một số quốc gia đang phát triển như Hungary, Thổ Nhĩ Kỳ, Romania, Nam Phi, Ghana,… (Stainbank, 2010; Eierle & Haller, 2009; Otchere & Agbeibor, 2012). IFRS for SMEs đã được khá nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng hoặc công bố kế hoạch áp dụng. Việc áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế làm tăng tính so sánh sẽ giúp làm giảm chi phí cho cả người lập lẫn người sử dụng BCTC (LJ Stainbank, 2010; Hana Bohusova, 2011), đồng thời làm cho thị trường vốn toàn cầu hoạt động hiệu quả hơn (DeFond et al. 2010). Nhiều học giả cho rằng việc xem xét đưa IFRS for SMEs vào áp dụng sẽ giúp các nước đang phát triển tiết kiệm khoản chi phí đáng kể liên quan đến việc ban hành, chỉnh sửa các chuẩn mực kế toán, bên cạnh đó việc “sản xuất” các chuẩn mực chuyển giao cho một tổ chức độc lập duy nhất là hợp lý và giúp tiết kiệm chi phí (Chua and Taylor, 2008; Pacter, 2009). Không những thế, việc đưa IFRS for SMEs vào áp dụng góp phần giúp nghề nghiệp kế toán phát triển và cải thiện môi trường kinh doanh (Adela Deaconu et al, 2012).

Tại Việt Nam, trước xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, nhiều tác giả cũng tập trung nghiên cứu vấn đề hòa hợp kế toán giữa các quốc gia và hội tụ kế toán quốc tế. Theo đó, phương án ban hành chuẩn mực kế toán riêng áp dụng cho các DNNVV trên cơ sở chuẩn mực kế toán quốc tế đang được các quốc gia ưu tiên lựa chọn (Mai Ngọc Anh, 2011; Lưu Đức Tuyên, 2012). Tuy nhiên việc tiếp cận với chuẩn mực kế toán quốc tế là tương đối khó khăn với doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng, vì thế cho đến nay chuẩn mực kế toán Việt Nam vẫn có mức độ hòa hợp thấp so với chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS/IFRS) (Pham Hoai Huong, 2010;Tran Hong Van, 2014). Có thể thấy việc ban hành chuẩn mực kế toán  cho DNNVV ở Việt Nam trên cơ sở tiếp cận IFRS for SMEs để bắt nhịp với xu thế hội tụ kế toán quốc tế và phù hợp với thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp này là vấn đề không hề đơn giản. Nghiên cứu của Trần Thị Thanh Hải (2015) đã phần nào đề cập đến vấn đề xác lập và vận dụng khung pháp lý về kế toán cho DNNVV ở Việt Nam theo hướng tiếp cận IFRS for SMEs, hay nghiên cứu của Hồ Xuân Thủy (2016) về sự thích hợp của IFRS for SMEs cho DNNVV Việt Nam cũng có liên quan đến vấn đề này.

Qua tổng quan nghiên cứu và xuất phát từ yêu cầu thực thực tiễn trong bối cảnh các quốc gia đang đẩy nhanh quá trình hội tụ kế toán quốc tế, có thể thấy việc tiếp tục nghiên cứu để xác lập lộ trình và đề xuất những giải pháp thích ứng cho việc thiết lập bộ chuẩn mực kế toán cho DNNVV ở Việt Nam là vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.

  1. Một số nhận định

Việc tiếp cận để đi đến áp dụng toàn bộ IFRS for SMEs là xu thế tất yếu trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu nói chung và hội tụ kế toán quốc tế nói riêng. Tất nhiên do đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội của từng quốc gia nên lộ trình và bước đi trong quá trình hội tụ kế toán sẽ có những khác biệt nhất định. Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế sâu rộng và cũng đang đẩy nhanh tiến trình hội tụ kế toán quốc tế. Tuy nhiên qua kế thừa kết quả một số nghiên cứu có liên quan cũng như kết quả nghiên cứu mà nhóm tác giả đã thực hiện và công bố kết hợp với việc khảo sát chuyên gia và khảo sát những người làm kế toán ở các DNNVV cho thấy rằng việc áp dụng bộ chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS/ IAS) nói chung và IFRS for SMEs nói riêng ở Việt Nam còn gặp nhiều cản ngại liên quan đến môi trường chính trị, môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh, môi trường văn hóa giáo dục,..nên cần phải có lộ trình tháo gỡ để có thể áp dụng một cách có hiệu quả.

Theo chúng tôi để có thể áp dụng IFRS for SMEs cho DNNVV ở Việt Nam thì trước mắt cần phải xác định lộ trình và nhận diện các nhân tố chính tác động đến việc áp dụng bộ chuẩn mực này để có những can thiệp phù hợp. Việc đưa IFRS for SMEs vào áp dụng tại Việt Nam cần phải thực hiện theo lộ trình 2 bước:

Bước1: Thực hiện việc xây dựng một bộ chuẩn mực áp dụng riêng cho DNNVV trên tinh thần chọn lọc từ IFRS for SMEs nhưng nội dung chuẩn mực đơn giản, phù hợp với tình hình hoạt động của DNNVV và điều chỉnh, sửa chữa những chuẩn mực thật sự chưa phù hợp để có thể áp dụng cho DNNVV trong giai đoạn hiện nay. Thông qua bộ chuẩn mực kế toán này sẽ tạo điều kiện để tiếp cận các nội dung cơ bản, chủ yếu của IFRS for SMEs và chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc áp dụng toàn bộ IFRS for SMEs trong tương lai.

Bước 2: sau khi các DNNVV đã thực sự quen thuộc và tuân thủ việc áp dụng bộ chuẩn mực kế toán đã được soạn thảo và đưa vào áp dụng một cách tự giác, cơ chế quản lý  của nhà nước đã có những điều chỉnh phù hợp với nền kinh tế thị trường, các DNNVV đã hội nhập một cách bền vững với thị trường quốc tế thì lúc này sẽ chuyển sang áp dụng toàn bộ IFRS for SMEs như rất nhiều quốc gia trên thế giới.

Từ kết quả tổng hợp các nghiên cứu cho thấy, việc đưa IFRS for SMEs vào áp dụng sẽ chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố chính như sau:

Trước hết là nhà quản trị và người làm kế toán: có thể nói đây là nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất đến việc áp dụng IFRS for SMEs. Các nhà quản trị DNNVV cần thấy rõ sự cần thiết và lợi ích của việc áp dụng IFRS for SMEs để họ thực sự quan tâm và trực tiếp chỉ đạo áp dụng IFRS for SMEs vào công tác kế toán tại doanh nghiệp. Bên cạnh đó, trình độ và sự hiểu biết của người làm kế toán cần phải được tăng cường để có thể vận dụng, tổ chức, thực hiện công tác kế toán theo đúng tinh thần và nội dung quy định trong chuẩn mực.

Một vấn đề không kém phần quan trọng đó là việc quy định bắt buộc với những ràng buộc chặt chẽ việc áp dụng IFRS for SMEs từ phía nhà nước, cùng với một chương trình đào tạo kế toán riêng biệt, chuyên sâu cho DNNVV. Chính những điều này sẽ giúp việc đưa IFRS for SMEs vào áp dụng tại các DNNVV Việt Nam một cách thuận lợi. Nhà nước cần có quy định chế tài cụ thể đối với việc áp dụng chuẩn mực để các DNNVV tuân thủ một cách nghiêm túc. Các cơ sở đào tạo nên phối hợp bằng cách thiết kế những chương trình đào tạo chuyên nghiệp gắn liền với nội dung chuẩn mực kế toán để người học có thể vận dụng tốt vào công tác kế toán tại DNNVV sau khi tốt nghiệp bởi thực tế cho thấy phần lớn các doanh nghiệp đang hoạt động có quy mô nhỏ và vừa, vì thế người làm kế toán chủ yếu phục vụ cho đối tượng doanh nghiệp này.

Thêm vào đó, trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra nhanh chóng thì áp lực hội nhập có ảnh hưởng đáng kể đến việc áp dụng IFRS for SMEs  tại các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Trong xu thế hội nhập ngày càng sâu và mở rộng ra nhiều phương diện và lĩnh vực hoạt động, các DNNVV có nhiều cơ hội tham gia trực tiếp vào thị trường quốc tế chứ không còn đơn thuần là các doanh nghiệp vệ tinh hoặc chỉ làm công việc gia công cho các doanh nghiệp lớn, chính điều này đòi hỏi thông tin trên BCTC của DNNVV phải được tạo lập trên nền tảng các quy định được quốc tế hóa để được công nhận rộng rãi từ các đối tượng có liên quan. Đây chính là áp lực đòi hỏi các DNNVV ở Việt Nam cần phải sớm áp dụng IFRS for SMEs.

  1. Một số đề xuất

Để xây dựng lộ trình và thiết lập được bộ chuẩn mực kế toán cho DNNVV tiệm cận dần với chuẩn mực quốc tế và thực sự phù hợp với đặc điểm hoạt động của DNNVV Việt Nam, nhóm tác giả có một số đề xuất như sau:

Ø  Về phía nhà nước: các cơ quan quản lý nhà nước về Kế toán – Kiểm toán thuộc Bộ Tài chính cần phải nhanh chóng soạn thảo và ban hành các quy định liên quan đến việc áp dụng bộ chuẩn mực kế toán cho DNNVV theo hướng tiếp cận đi đến áp dụng toàn bộ IFRS for SMEs. Cụ thể:

Tiến hành nghiên cứu, dịch thuật bộ chuẩn mực IFRS for SMEs phiên bản mới nhất để qua đó, chọn lọc những phần, những nội dung có thể áp dụng toàn bộ ngay, đồng thời xác định những phần có thể áp dụng ngay nhưng phải được điều chỉnh, sửa đổi cho phù hợp với điều kiện của DNNVV ở Việt Nam. Trên cơ sở này tiến hành thiết lập bộ chuẩn mực kế toán để áp dụng riêng cho DNNVV trong giai đoạn hiện nay. Đến một giai đoạn nhất định khi các DNNVV ở Việt Nam hội đủ các điều kiện cần thiết cho việc áp dụng toàn bộ IFRS for SMEs thì chuyển sang áp dụng toàn bộ theo chuẩn mực quốc tế phiên bản mới nhất.

Song song với việc ban hành bộ chuẩn mực kế toán áp dụng cho DNNVV theo hướng tiếp cận IFRS for SMEs, cần phải đổi mới hệ thống kế toán áp dụng cho DNNVV theo hướng tích hợp chung vào một chế độ kế toán áp dụng cho doanh nghiệp, trong đó sẽ có những phần nội dung được giới hạn và quy định áp dụng cho DNNVV mà chủ yếu là quy định về hệ thống tài khoản và hệ thống BCTC. Việc tích hợp sẽ tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng khi tổ chức công tác kế toán cũng như khi chuyển đổi quy mô và hình thức sở hữu doanh nghiệp. Ngoài ra việc tích hợp này cũng tạo điều kiện dễ dàng cho việc kiểm tra, kiểm soát hoạt động kế toán của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó việc tích hợp và thống nhất chế độ kế toán cho các loại hình doanh nghiệp sẽ giúp cho việc kiện toàn cơ sở hạ tầng kế toán được thuận lợi, nhanh chóng và đạt hiệu quả tốt hơn.

Để tạo ra tính tuân thủ trong việc áp dụng bộ chuẩn mực kế toán cho DNNVV thì cần phải có quy định bắt buộc đối với các DNNVV thực hiện nghiêm túc bộ chuẩn mực kế toán đã ban hành vào công tác kế toán tại doanh nghiệp. Cần quy định các cơ quan chức năng của nhà nước chỉ chấp nhận sử dụng thông tin kế toán của DNNVV được trình bày và công bố theo bộ chuẩn mực kế toán đã ban hành. Đồng thời cần ban hành chế tài xử phạt thật nghiêm đối với các doanh nghiệp không tuân thủ hoặc vi phạm việc áp dụng bộ chuẩn mực này.

Cơ quan quản lý nhà nước về kế toán – kiểm toán phải làm đầu mối để tập hợp sức mạnh về chuyên môn học thuật và kỹ năng nghề nghiệp tại các cơ sở đào tạo, các tổ chức nghề nghiệp trong quá trình nghiên cứu soạn thảo bộ chuẩn mực kế toán cho DNNVV, việc xây dựng chế độ kế toán tích hợp, thống nhất cho các loại hình doanh nghiệp cũng như quá trình huấn luyện, bồi dưỡng kiến thức cho các đối tượng có liên quan ở DNNVV để áp dụng các văn bản pháp lý này. Việc tập hợp được lực lượng như vậy sẽ tạo ra được sức mạnh trí tuệ để thực hiện nhanh và có hiệu quả quá trình đưa chuẩn mực kế toán áp dụng vào hoạt động thực tiễn tại các DNNVV ở Việt Nam.

Ø   Về phía các DNNVV

Các nhà quản trị DNNVV cần phải quan tâm hơn nữa chất lượng thông tin do kế toán cung cấp bởi lẽ trong điều kiện hội nhập kinh tế sâu rộng, thông tin kế toán không chỉ đáp ứng yêu cầu quản lý cho bản thân doanh nghiệp mà nó còn phục vụ rộng rãi cho nhiều đối tượng có liên quan ở trong nước cũng như ở nước ngoài. Do vậy sự hiểu biết của nhà quản trị về sự quan trọng và cần thiết của việc áp dụng IFRS for SMEs, mà trước mắt là bộ chuẩn mực kế toán được ban hành theo hướng tiếp cận IFRS for SMEs là vô cùng quan trọng. Chính sự hiểu biết này sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động kế toán, nhờ đó đáp ứng được nhu cầu thông tin một cách phù hợp và đảm bảo sự tuân thủ các quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, việc tạo điều kiện cho người làm kế toán cập nhật kiến thức và nâng cao trình độ chuyên môn có ý nghĩa quan trọng cho việc thực hiện công tác kế toán theo yêu cầu của bộ chuẩn mực kế toán được ban hành. Chính trình độ và sự hiểu biết của người làm kế toán về bộ chuẩn mực kế toán áp dụng cho DNNVV sẽ là cơ sở quan trọng đảm bảo cho thông tin kế toán được soạn thảo và trình bày đáp ứng được các yêu cầu về nội dung mà chuẩn mực kế toán đã đề ra và được chấp nhận rộng rãi.

Ngoài ra, để đảm bảo tính nhanh nhạy và tính kết nối thông tin kế toán với toàn bộ hệ thống thông tin trong doanh nghiệp thì việc đầu tư cho công nghệ thông tin cũng có ý nghĩa quan trọng khi áp dụng bộ chuẩn mực kế toán cho DNNVV. Chính việc ứng dụng một cách phù hợp công nghệ thông tin cho công tác quản lý nói chung và cho công tác kế toán nói riêng sẽ góp phần chuyển tải thông tin cần thiết và hữu ích cho các đối tượng sử dụng một cách hiệu quả trong điều kiện kết nối mạng toàn cầu.

Ø  Về phía các cơ sở đào tạo và tổ chức nghề nghiệp:

Các cơ sở đào tạo cần xây dựng chiến lược đào tạo kế toán theo hướng hội tụ kế toán quốc tế, trong đó phải dành một thời lượng thích đáng cho việc đào tạo kế toán cho DNNVV vì đây là loại hình doanh nghiệp chiếm đại bộ phận trong nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay cũng như về lâu dài. Bên cạnh việc xây dựng chương trình đào tạo phù hợp cho DNNVV theo hướng tiếp cận tiến đến áp dụng toàn bộ IFRS for SMEs, cần chú trọng đến năng lực sử dụng tiếng Anh, tính chuyên nghiệp và khả năng xét đoán nghề nghiệp của người làm kế toán trong điều kiện hội nhập sâu rộng.

Các tổ chức nghề nghiệp trong nước và nước ngoài đang hoạt động ở Việt Nam cần mở rộng chương trình cập nhất đổi mới kiến thức về thực hành kế toán cho các loại hình doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV để qua các chương trình đào tạo này tăng cường được kỹ năng thực hành, tính chuyên nghiệp và khả năng xét đoán nghề nghiệp cho người làm kế toán theo yêu cầu của chuẩn mực kế toán quốc tế.

Các cơ sở đào tạo đại học có chuyên ngành kế toán cần phối hợp với các tổ chức nghề nghiệp ở nước ngoài đang hoạt động ở Việt Nam như ACCA, CPA Australia,…để thiết lập chương trình đào tạo phù hợp nhằm một mặt đảm bảo kiến thức hàn lâm, mặt khác nâng cao khả năng xét đoán nghề nghiệp và kỹ năng thực hành cho người học để có thể thực hiện tốt công tác kế toán trong môi trường quốc tế, đặc biệt là thực hiện tốt công tác kế toán một khi Việt Nam đưa vào áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế nói chung (IAS/IFRS) và chuẩn mực báo cáo tài chính cho DNNVV (IFRS for SMEs) nói riêng.

Các cơ sở đào tạo và tổ chức nghề nghiệp cần chứng minh và thể hiện vai trò tư vấn cho cơ quan quản lý nhà nước về kế toán, kiểm toán trong việc xây sựng, ban hành và đưa vào áp dụng bộ chuẩn mực kế toán cho DNNVV theo hướng tiếp cận IFRS for SMEs, đồng thời phải hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước trong việc huấn luyện, cập nhật kiến thức kế toán theo bộ chuẩn mực kế toán được ban hành đến toàn bộ các DNNVV trong phạm vi cả nước. Đây là việc làm hết sức quan trọng để bộ chuẩn mực kế toán đi vào thực tiễn công tác kế toán ở DNNVV trong giai đoạn trước mắt cũng như về lâu dài.

  1. Kết luận

Việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS/IFRS) và chuẩn mực báo cáo tài chính cho DNNVV (IFRS for SMEs) cho các doanh nghiệp Việt Nam chỉ còn là vấn đề thời gian. Tuy nhiên để tạo nên sự hòa hợp trong điều kiện có nhiều khác biệt về thể chế chính trị, môi trường pháp lý, môi trường văn hóa giáo dục thì việc tiếp cận các quy định quốc tế để thiết lập bộ chuẩn mực kế toán cho doanh nghiệp Việt Nam nói chung và cho DNNVV nói riêng là một việc làm thích hợp trong giai đoạn hiện nay trước khi chuyển sang áp dụng toàn bộ các quy định quốc tế. Vấn đề đặt ra là bộ chuẩn mực được thiết lập cho DNNVV phải có tính khả thi và được cộng đồng DNNVV chấp nhận và tuân thủ thực hiện một cách tự giác và nghiêm túc. Để đạt được điều này cần phải có sự phối hợp chặc chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước về kế toán, kiểm toán với các cơ sở đào tạo và các hiệp hội nghề nghiệp trong quá trình nghiên cứu để soạn thảo, ban hành và tổ chức thực hiện đưa chuẩn mực kế toán vào hoạt động kế toán của các DNNVV ở Việt Nam.

 

 Sưu tầm từ trang http://ifrsvietnam.vn

Updated: 25/07/2017 — 12:29 chiều

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

© 2016 - Khoa HTTTKT CIT